Lịch sử

Người khai khẩn lập làng Tăng Nhơn Phú

Một câu chuyện hơn 140 năm về sự dấn thân, lập nghiệp và để lại di sản cho cả cộng đồng.

❦

Cụ Nguyễn Minh Giác, hiệu Tấn Minh, được triều đình ban chức Tri huyện nhờ công lao khai khẩn vùng đất gò đồi phía đông Sài Gòn – Gia Định. Cùng cụ bà Đỗ Thị Gần, ông đã chiêu tập lưu dân, dựng làng, đào kênh dẫn nước, mở mang ruộng vườn và tạo nên một địa bàn cư trú trù phú mang tên Tăng Nhơn Phú.

Đến năm 1914, ông khánh thành ngôi nhà rường Huế làm nơi cư trú và thờ tự — công trình này về sau trở thành Nhà Từ đường của cả gia tộc, là chốn neo giữ huyết thống và đạo hiếu của hậu duệ họ Nguyễn suốt năm thế hệ.

Trước đó, từ năm 1849, thân phụ ông — ông Nguyễn Văn Lương — đã trích khoảng nửa mẫu đất của gia đình hiến cho làng dựng Đình Tăng Phú, ngôi đình mà sau này, năm 2006, được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Hồ Chí Minh. Đình và nhà — hai công trình song hành — cùng kể câu chuyện về một dòng họ đã vun đắp cả một vùng đất.

Thế hệ trước

Ông Nguyễn Văn Lương — người góp đất, góp công xây chùa đình

Ông Nguyễn Văn Lương sinh khoảng năm 1825, là con của ông Nguyễn Văn Viên và bà Huỳnh Thị Mung. Ông trưởng thành trong thế kỷ XIX, khi vùng Gia Định – Biên Hòa còn mang đậm cấu trúc xã hội của làng Nam Bộ và chứng kiến những biến động lớn từ thời Nguyễn sang thời Pháp thuộc.

Ông có nhiều đóng góp cho đời sống tín ngưỡng và cộng đồng tại Tăng Nhơn Phú: hiến đất dựng Đình Tăng Phú, bỏ công sức và tài vật chăm lo đình cùng các cơ sở tín ngưỡng trong vùng, đồng thời gắn bó mật thiết với chùa Phước Tường — một trong những ngôi chùa cổ của vùng Thủ Đức.

Trước Cố Tổ giúp ngài Lê Thánh
Sau Nội Tổ xây cất chùa đình
Nay cháu con thừa hưởng phước dư
Xưa Sơ Tổ lập công bồi đức
— Thơ của Trưởng lão Hòa thượng Thích Hồng Đạo, cháu nội ông Nguyễn Văn Lương

Câu “Sau Nội Tổ xây cất chùa đình” chính là lời nhắc về công đức ấy. Ông kết duyên với bà Phạm Thị Cương; người con trai lớn là Nguyễn Văn Giác — sau đổi tên thành Nguyễn Minh Giác.

Học vấn & triết lý

Một nhà Nho – Y – Phật học

Dù Nam Kỳ khi ấy đã bước sang thời kỳ thuộc địa, ông Nguyễn Minh Giác vẫn được giáo dục theo nền học vấn Nho học truyền thống, thông hiểu kinh điển, văn chương, Y học và Phật học. Các tư liệu Phật giáo ghi nhận ông là Tri huyện Nguyễn Minh Giác, pháp danh Hồng Ngộ, tự Phổ Minh — một nhà Nho – Y nổi tiếng đương thời và là người nghiên cứu Phật học uyên thâm.

“Thế đức tác cầu, tảo nhi lạc thiên, tân đống vũ.”

Noi theo đức của tổ tiên, thuận mệnh trời mà dựng nên nhà mới.

“Lý nhân nhi mỹ, yên thiên tuy địa, bốc quy mô.”

Chọn nơi nhân đức để ở, thuận theo thế đất mà định quy mô xây dựng, lưu lại điều tốt đẹp lâu dài.

Những câu đối, đại tự còn lưu trong ngôi nhà không đơn thuần là trang trí kiến trúc. Chúng thể hiện tư tưởng của một nhà Nho: con người sống trong mối liên hệ với tổ tiên, gia đình, đất đai, cộng đồng và đạo lý.

Năm 1927, ông trùng kiến chùa Hội Sơn — ngôi cổ tự lâu đời của vùng Thủ Đức (theo sách Những Ngôi Chùa Nổi Tiếng Việt Nam của Võ Văn Tường). Đến năm 1938, khi con gái ông là Ni trưởng Như Thanh tiếp nối Phật sự, ông vẫn tham gia trông coi và tu sửa chùa đến khoảng năm 1943. Chùa Hội Sơn về sau được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

Ba thế hệ

Một dòng tiếp nối

1Nguyễn Văn Lương

Góp đất, góp công xây dựng đình chùa và chăm lo đời sống cộng đồng tại Tăng Nhơn Phú.

2Tri huyện Nguyễn Minh Giác

Tiếp nối truyền thống Nho học, Y học và Phật học; hoàn thiện ngôi nhà năm 1914; trùng kiến chùa Hội Sơn năm 1927 và tiếp tục chăm lo ngôi cổ tự.

3HT Thích Hồng Đạo – Ni trưởng Như Thanh

Đưa truyền thống gia đình vượt khỏi phạm vi một làng quê, trở thành những nhân vật có đóng góp đáng kể cho Phật giáo Nam Bộ và Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX.

Đình – Nhà – Người

Người dựng đình ấy, ngôi nhà ấy —
cùng một mạch văn hóa

Trong chiều sâu lịch sử Nam Bộ, đình làng và ngôi nhà của người dựng đình vốn không tách rời. Một bên là thiết chế cộng đồng đã được Nhà nước ghi nhận. Bên còn lại là không gian gốc của người kiến tạo — lẽ ra cũng cần được gìn giữ như một phần không thể thiếu của ký ức vùng đất.

Niên biểu

Dòng chảy thời gian

❦
  1. khoảng 1825

    Ông Nguyễn Văn Lương sinh

    Con của ông Nguyễn Văn Viên và bà Huỳnh Thị Mung, trưởng thành trong thế kỷ XIX tại vùng Gia Định – Biên Hòa.

  2. 1849

    Hiến đất, hiến công dựng đình

    Ông Nguyễn Văn Lương trích khoảng nửa mẫu đất của gia đình hiến cho làng xây dựng Đình Tăng Phú, đồng thời bỏ công sức và tài vật chăm lo đình và chùa Phước Tường.

  3. 1875

    Nguyễn Văn Giác chào đời

    Con của ông Nguyễn Văn Lương và bà Phạm Thị Cương; về sau đổi tên thành Nguyễn Minh Giác, pháp danh Hồng Ngộ, tự Phổ Minh.

  4. 1914

    Hoàn thiện nhà cổ

    Cụ Tri huyện Nguyễn Minh Giác và cụ bà Đỗ Thị Gần (pháp danh Hồng Tín) hoàn thành ngôi nhà trên khu đất khoảng 42 m × 100 m tại Tăng Nhơn Phú.

  5. 1927

    Trùng kiến chùa Hội Sơn

    Theo sách 'Những Ngôi Chùa Nổi Tiếng Việt Nam' (Võ Văn Tường), cụ Nguyễn Minh Giác trùng kiến chùa Hội Sơn — ngôi cổ tự nay là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

  6. 1938 – 1943

    Tiếp tục chăm lo cổ tự

    Khi Ni trưởng Như Thanh tiếp nối đường tu học và Phật sự, cụ vẫn tham gia trông coi, tu sửa chùa Hội Sơn.

  7. 2002

    Vào danh mục bảo vệ

    Văn bản 1081/UB của UBND Quận 9 (cũ) đưa căn nhà vào danh sách di tích kiến trúc nghệ thuật cần được gìn giữ.

  8. 2006

    Đình xếp hạng

    Đình Tăng Nhơn Phú được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. 2015

    Phim tài liệu Nhật Bản

    Đài BS-TBS quay phim tài liệu “Window to the World” về ngôi nhà — tập #440 và tập #704.

  10. 2026

    Ban quy hoạch Công nghệ cao gửi yêu cầu tháo dỡ nhà

    Công trình đứng trước nguy cơ bị cưỡng chế tháo dỡ. Gia tộc đã liên tục gửi đơn kiến nghị, đơn cứu xét đến UBND TP. HCM, Sở Văn hóa - Thể thao TP. HCM, Sở Kiến trúc - Quy hoạch, Cục Di sản,.. với mong muốn được bảo tồn và giữ gìn ngôi nhà Từ đường